


Lá gan không chờ 90 ngày: Tháng 3/2026, ông Đỗ Quang Ba, Chủ tịch Tổ chức Giao lưu quốc tế Việt Nam-Nhật Bản (FAVIJA), nhận được đề nghị hỗ trợ từ một bệnh nhân Nhật Bản có nhu cầu sang Việt Nam ghép gan.
Ông Đỗ Quang Ba đã liên hệ với cơ sở y tế tại Hà Nội để tìm hiểu khả năng tiếp nhận bệnh nhân, tuy nhiên, do bệnh viện chưa từng thực hiện ghép gan cho bệnh nhân nước ngoài, quá trình đánh giá, thống nhất đầu mối và xây dựng phương án điều trị mất nhiều thời gian.
Theo kế hoạch, thời gian điều trị và hậu phẫu dự kiến kéo dài khoảng hai tháng. Sau đó, bệnh nhân phải thường xuyên tái khám để theo dõi chức năng gan và nguy cơ thải ghép. Đây là một quá trình khó có thể ấn định theo lịch trình nhập cảnh và xuất cảnh cố định.
Theo quy định hiện hành, thị thực điện tử có thời hạn tối đa 90 ngày, trong khi công dân Nhật Bản nhập cảnh theo diện miễn thị thực được tạm trú 45 ngày. Với ca ghép gan, khoảng thời gian điều trị và hậu phẫu dự kiến khoảng hai tháng mới chỉ là chặng đầu; bệnh nhân còn phải tái khám, theo dõi nguy cơ thải ghép và kéo dài điều trị nếu phát sinh biến chứng. Điều người bệnh cần là cơ chế lưu trú có thể thích ứng với chỉ định y khoa sau đó. Sự thiếu chắc chắn ấy khiến bệnh nhân lo lắng và cuối cùng hủy kế hoạch điều trị tại Việt Nam.
Ông Đỗ Quang Ba
Chủ tịch Tổ chức Giao lưu quốc tế Việt Nam-Nhật Bản (FAVIJA)
TS, BS Dương Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế đánh giá Việt Nam có năng lực chuyên môn, mức giá cạnh tranh và lợi thế du lịch nhưng còn thiếu cơ chế đồng bộ, liên kết liên ngành và thương hiệu quốc gia. Đây chính là khoảng cách giữa “có tiềm năng” và “có sản phẩm”.
TS, BS Dương Huy Lương chia sẻ về biến tiềm năng thành sản phẩm du lịch y tế.
Du lịch y tế đang là một trong những phân khúc tăng trưởng nhanh của kinh tế dịch vụ. Tuy nhiên, từ thực tế tiếp nhận và hỗ trợ bệnh nhân nước ngoài đến Việt Nam khám, chữa bệnh, các bệnh viện và doanh nghiệp đều nhận thấy thị thực đang là một trong những “nút thắt cổ chai” lớn nhất.
Theo ông Nguyễn Công Minh, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, việc bệnh viện tiếp nhận bệnh nhân quốc tế hiện chưa gắn với một cơ chế thị thực riêng.
Người bệnh vẫn phải lựa chọn các diện thị thực hiện hành vốn chưa phản ánh đầy đủ mục đích và đặc thù điều trị, trong khi một ca phẫu thuật, ung thư hay ghép tạng có thể kéo dài, đòi hỏi tái khám và thân nhân đi cùng. Sự bị động này không chỉ gây áp lực cho bệnh viện mà còn khiến người bệnh khó yên tâm lựa chọn Việt Nam.

Theo đại diện Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, thị trường du lịch y tế toàn cầu đang được dự báo duy trì mức tăng trưởng 15-20%, trong đó châu Á-Thái Bình Dương là một trong những khu vực phát triển nhanh. Đây là dư địa để khai thác lợi thế về hệ thống bệnh viện, năng lực chuyên khoa và hạ tầng du lịch của Việt Nam.
Hà Nội có 90 bệnh viện thuộc hệ thống y tế thành phố, với hơn 16.400 giường bệnh; trong đó, 7 bệnh viện có trong bảng xếp hạng chuyên khoa từ Newsweek/Statista gồm: Bạch Mai, Hữu nghị Việt Đức, Phương Đông, Việt Pháp, Hồng Ngọc, Bệnh viện 19-8 và Thu Cúc.
Tuy nhiên, khách hàng quốc tế không mua riêng một “ca điều trị” mà cần một hệ thống, từ tìm hiểu đến tư vấn từ xa, nhận báo giá, xin visa, đặt chuyến bay, khám và điều trị, phục hồi, nghỉ dưỡng rồi tiếp tục theo dõi sau khi về nước.
Khoảng trống này còn hạn chế khả năng phát triển dịch vụ dưỡng lão kết hợp chăm sóc sức khỏe, phục hồi và nghỉ dưỡng.

Việt Nam với chi phí cạnh tranh, khí hậu thuận lợi, văn hóa gần gũi và năng lực y tế ngày càng nâng cao có thể hướng tới nhiều nhóm khách có điều kiện kinh tế như người cao tuổi quốc tế hay Việt kiều hồi hương có nhu cầu được chăm sóc dài hạn.
Tuy nhiên, loại hình này đòi hỏi thời gian lưu trú dài, hồ sơ y tế liên tục, người chăm sóc đi cùng, tiêu chuẩn an toàn và cơ chế phối hợp đa ngành. Nếu chưa tháo gỡ bài toán thị thực, thời gian lưu trú và trách nhiệm của đơn vị quản lý, tiềm năng ấy vẫn khó trở thành một sản phẩm quốc tế hoàn chỉnh.
Để mở đường cho du lịch y tế phát triển, cần bắt đầu bằng việc coi visa y tế là hạ tầng của ngành dịch vụ, không phải một ưu đãi hành chính đơn lẻ.
Ông Đỗ Quang Ba, Chủ tịch Tổ chức Giao lưu quốc tế Việt Nam-Nhật Bản (FAVIJA), đề xuất thiết lập quy trình phối hợp ba bên giữa bệnh viện, đơn vị hỗ trợ bệnh nhân và cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.
Theo đó, khi bệnh viện xác nhận tiếp nhận bệnh nhân nước ngoài, thông tin này sẽ trở thành cơ sở để xử lý thị thực, xác định thời gian lưu trú, nhu cầu của người thân đi cùng và phương án gia hạn nếu quá trình điều trị kéo dài.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Công Minh cho rằng cần xây dựng cơ chế kết nối trực tiếp giữa cơ sở y tế với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để kịp thời thông tin những thay đổi phát sinh trong quá trình điều trị để từ đó xử lý thời hạn lưu trú, gia hạn thị thực.
Khi đó, thị thực sẽ trở thành một phần trong kế hoạch điều trị và được cập nhật xuyên suốt chứ không còn là thủ tục người bệnh phải tự xoay xở trong khi cần tập trung điều trị bệnh.
Tuy nhiên, để tránh phát sinh rủi ro hoặc bị lợi dụng, cơ chế cần đi kèm danh sách bệnh viện đủ điều kiện tiếp nhận khách quốc tế, tiêu chí minh bạch, trách nhiệm báo cáo và kết nối dữ liệu giữa ngành y tế với cơ quan xuất nhập cảnh.
Nhưng tháo gỡ thị thực mới chỉ là bước mở cửa. Sau cửa nhập cảnh phải là một chuỗi dịch vụ liền mạch, trong đó bệnh viện, doanh nghiệp hỗ trợ và đơn vị lữ hành được phân định rõ trách nhiệm từ tiếp nhận yêu cầu, thu hồ sơ, tư vấn, báo giá đến điều trị, xuất viện và theo dõi sau đó. Đây là điều kiện để chuyển năng lực chuyên môn thành sản phẩm y tế mà khách quốc tế có thể hiểu, tin tưởng và lựa chọn.
Trong chuỗi này, doanh nghiệp lữ hành có thể trở thành đầu mối điều phối hành trình: kết nối hồ sơ với bác sĩ, đồng bộ lịch điều trị với chuyến bay và lưu trú, bố trí phiên dịch y khoa, quản lý rủi ro và tổ chức phục hồi sau điều trị. Bệnh viện chịu trách nhiệm chuyên môn; doanh nghiệp đảm nhiệm phần dịch vụ ngoài y khoa đang còn bỏ trống.
Về phía bệnh viện, yêu cầu trước mắt là chuẩn hóa các gói dịch vụ, công khai phạm vi và chi phí, tổ chức tư vấn từ xa, đồng thời xây dựng bộ phận quốc tế có bác sĩ giao tiếp ngoại ngữ, phiên dịch viên và điều phối viên. Chỉ khi các mắt xích này được kết nối, thị thực y tế mới thực sự trở thành cánh cửa mở vào một hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Kinh nghiệm từ Malaysia, Thái Lan hay Dubai cho thấy thị trường chỉ tăng tốc khi có hệ sinh thái hoạt động ổn định. Mô hình các nước có thể khác nhau, nhưng đều có một điểm chung: khách hàng biết phải đến đâu và trách nhiệm nằm ở khu vực nào.
Nhật Bản triển khai Medical Stay Visa từ năm 2011, người xin visa thông qua đơn vị bảo lãnh như điều phối viên y tế hoặc công ty được Chính phủ công nhận. Đơn vị này sẽ kết nối bệnh nhân với bệnh viện, xây dựng kế hoạch điều trị, chuẩn bị hồ sơ, chứng minh tài chính và hỗ trợ toàn bộ quy trình trước khi bệnh nhân nhập cảnh.
Thái Lan cấp Non-Immigrant O (Medical Treatment) dành cho người điều trị trên 60 ngày và thị thực điều trị ngắn hạn đối với các trường hợp dưới 60 ngày; Ấn Độ triển khai Medical Visa (MED) và Medical Attendant Visa (MED-X) dành cho người đi cùng; Malaysia có cơ chế nhập cảnh kết hợp với hệ thống điều phối bệnh nhân quốc tế thông qua các bệnh viện và cơ quan xúc tiến du lịch y tế.
Những chính sách này giúp người bệnh thuận tiện hơn trong việc nhập cảnh, kéo dài thời gian lưu trú khi cần điều trị và tạo nền tảng để kết nối đồng bộ với bảo hiểm, cơ sở y tế và các dịch vụ hỗ trợ khác.
Theo các chuyên gia và cơ sở y tế, Việt Nam có thể triển khai một “sandbox”, cơ chế cho phép thí điểm chính sách trong phạm vi, thời gian và đối tượng được kiểm soát, tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Đây là hai địa bàn tập trung nhiều bệnh viện lớn, hạ tầng hàng không, cơ sở lưu trú và doanh nghiệp dịch vụ, phù hợp để thử nghiệm quy trình tiếp nhận, cấp thị thực, điều phối và theo dõi bệnh nhân quốc tế trước khi đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng.
Chương trình sẽ xác định cơ quan điều phối liên ngành; lựa chọn nhóm bệnh viện và doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí; thử nghiệm quy trình visa y tế; kết nối bảo hiểm quốc tế; xây dựng dữ liệu dùng chung và đo lường bằng số bệnh nhân, doanh thu toàn chuỗi, mức độ hài lòng, an toàn người bệnh cùng tỷ lệ quay lại.
Ngành y tế xây dựng tiêu chí chất lượng, danh mục thế mạnh và chuẩn an toàn; ngành du lịch phát triển thương hiệu, thị trường và mạng lưới xúc tiến; cơ quan công an, xuất nhập cảnh thiết kế cơ chế visa và lưu trú; ngành ngoại giao hỗ trợ truyền thông, kết nối đối tác; tài chính và bảo hiểm tháo gỡ thanh toán. Hiệp hội và doanh nghiệp đảm nhiệm đào tạo, liên kết, xây dựng sản phẩm và vận hành hành trình.
Visa y tế là “phép thử” đối với năng lực phối hợp của cả hệ thống. Nếu tháo được nút thắt này, Việt Nam không chỉ tạo thuận lợi cho khâu nhập cảnh mà sẽ mở ra cơ hội để "canh tác cánh đồng' du lịch y tế vốn đã mang nhiều tiềm năng.
Y tế 24h - 10/09/2026
Tham gia lớp đào tạo, 74 học viên đến từ các trạm y tế trên địa bàn tỉnh được các bác sĩ, điều dưỡng có kinh nghiệm trong lĩnh vực cấp cứu, hồi sức và...
Y tế 24h - 10/09/2026
Ngày 9/9, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) nhận được thông tin về việc Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Mê (tỉnh Tuyên Quang) tiếp nhận cấp cứu 3 bệnh nhâ...
Y tế 24h - 10/09/2026
Trước đó, bệnh nhân bị trượt ngã, va đập vùng kín xuống nền cứng trong lúc dương vật đang cương cứng. Sau ngã, vùng tổn thương đau nhức, sưng to và tí...
Y tế 24h - 10/09/2026
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 34/2026/TT-BYT hướng dẫn một số nội dung thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát tr...